1. Ban quản trị diễn diễn ra mục tiêu vì một diễn đàn sạch để hướng tới một mội trường internet sạch, chúng tôi nghiêm cấm tất cả mọi hành vi SPAM trên diễn đàn: post bài không đúng chuyên mục, comment bừa bãi và đăng tải nội dung vi phạm pháp luật. Chúng tôi sẽ không thông báo mà xóa tất cả các bài viết liên quan đồng thời Ban nick vĩnh viễn.
    Dismiss Notice

Giới thiệu Bệnh viêm gan do virut ở phụ nữ mang thai xử trí thế nào

Thảo luận trong 'Cần bán' bắt đầu bởi nangthang12, 19 Tháng mười hai 2020.

  1. nangthang12

    nangthang12 Member

    Bệnh viêm gan virút do nhiều loại virút khác nhau gây nên được ký hiệu là viêm gan A, B. C, D, E, G...
    Theo các nhà khoa học, trên thực tế chỉ có khoảng 60% trường hợp bệnh nhân có dấu hiệu vàng da trong thời kỳ mang thai là do viêm gan virút, vì vậy triệu chứng vàng da của bệnh viêm gan ở phụ nữ mang thai cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý khác như hội chứng Hellp trong tiền sản giật, vàng da do ngộ độc thuốc, sỏi mật, hiện tượng vàng da thông thường khác ở phụ nữ có thai...viêm gan do virut ở bà bầu xử trí sao cùng chúng tôi bật mí trong bài viết sau nhé!
    Bệnh viêm gan do virut ở phụ nữ mang thai xử trí sao
    Hậu quả phụ nữ mang thai mắc bệnh viêm gan virút
    Phụ nữ mang thai mắc bệnh viêm gan do virút có thể ảnh hưởng đối với thai nghén như gây sảy thai, thai chết lưu trong tử cung, tăng nguy cơ sinh non, tăng nguy cơ tử vong thai nhi, có nguy cơ chảy máu lúc sổ thai vì rối loạn đông máu ở các sản phụ vị viêm gan có suy giảm chức năng gan. Tỉ lệ teo gan cấp tính có thể xảy ra ở khoảng 20% các trường hợp thai nghén mắc viêm gan virút B cấp tính dẫn đến hôn mê và tử vong. Viêm gan virút E làm tăng nguy cơ tử vong ở mẹ và con. Lưu ý bệnh viêm gan virút B lây nhiễm qua đường máu, đường sinh dục và lây truyền từ mẹ sang con; sự lây truyền của virút viêm gan B từ mẹ sang con có thể xảy ra trong thời kỳ mang thai nhưng với tỉ lệ thấp, cũng có thể lây truyền trong lúc sinh đẻ hoặc trong thời kỳ hậu sản thông qua việc trẻ bú mẹ; hậu quả dẫn đến là gần 85% số trẻ này trở thành người mang mầm bệnh virút viên gan B mãn tính và cũng là nguồn lây nhiễm quan trọng trong cộng đồng.
    [​IMG]
    Sự lây truyền của virút viêm gan B từ mẹ sang con có thể xảy ra
    Triệu chứng bệnh lý và chẩn đoán xác định
    Trong giai đoạn tiền vàng da, biểu hiện lâm sàng thường có các triệu chứng ngoài gan như mệt mỏi, rã rời; hội chứng giả cúm như: nhức đầu, sốt nhẹ, đau cơ, đau khớp; rối loạn tiêu hóa như chán ăn, đau vùng thường vị hoặc hạ sườn phải; xét nghiệm máu ở giai đoạn này thấy men gan tăng cao gấp từ 5 - 10 lần so với mức bình thường. Thời kỳ vàng da thường kéo dài từ 2 - 8 tuần, trong thời gian này các triệu chứng ngoài gan giảm dần, bệnh nhân hết sốt; thay vào đó là triệu chứng ứ mật với dấu hiệu da và niêm mạc mắt vàng đậm dần, nước tiểu ít và vàng sẫm, 50% các trường bị ngứa, phân bạc màu; bệnh nhân thường đau tức hạ sườn phải do bao gan Glisson bị căng, gan mềm và ấn vào có cảm giác tức.
    Trong các bệnh viêm gan do virút, viêm gan do virút B thường khá phổ biến. Để chẩn đoán xác định viêm gan B tiến triển phải căn cứ vào phản ứng huyết thanh học để tìm các dấu ấn của virút gây viêm gan như có kết quả xét nghiệm HBsAg dương tính và HBeAg dương tính với nồng độ virút trên 105 hoặc HBeAg âm tính với nồng độ virút trên 104. Đối với sản phụ có HBsAg dương tính, cần xét nghiệm chức năng gan để phát hiện thể viêm gan không có triệu chứng.
    [​IMG]
    Bệnh nhân thường đau tức hạ sườn phải do bao gan Glisson bị căng
    Xử trí can thiệp điều trị và dự phòng
    Đối với những trường hợp sản phụ đã có chẩn đoán xác định viêm gan tiến triển; tuyến y tế cơ sở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thị xã, thành phố phải làm thủ tục chuyển lên tuyến trên ngay và lưu ý bệnh nhân phải được theo dõi tại cơ sở y tế từ tuyến tỉnh trở lên; trong xử trí can thiệp điều trị cần có sự phối hợp với các chuyên khoa liên quan như hồi sức, truyền nhiễm. Điều trị các rối loạn đông máu có thể sử dụng vitamin K, huyết tương tươi đông lạnh, tiểu cầu. Theo dõi trên monitor nhịp tim của người mẹ và thai nhi. Việc phẫu thuật mổ lấy thai không phải là giải pháp để xử trí điều trị rối loạn đông máu; thực tế phải căn cứ trên tuổi của thai nhi và tình trạng thai, nếu tình trạng bệnh lý xấu đi sau khi đã điều chỉnh rối loạn đông máu hợp lý thì có thể can thiệp bằng cách mổ lấy thai. Kỹ thuật gây mê toàn thân được các nhà khoa học khuyến cáo thực hiện trong phẫu thuật mổ lấy thai, nên tránh tiến hành thủ thuật gây tê ngoài màng cứng vì có nguy cơ chảy máu dẫn đến rối loạn đông máu. Cần chú ý theo dõi để tính lượng dịch đưa vào cơ thể và lượng dịch thải ra, kiểm tra tình trạng chảy máu âm đạo; cần truyền máu, tiểu cầu, huyết tương tươi để điều trị chảy máu và rối loạn đông máu trong lòng mạch; phải theo dõi tình trạng hạ huyết áp và điều trị kịp thời để tránh tổn thương gan, thận.
    Một vấn đề cũng cần được quan tâm là phải thực hiện các biện pháp dự phòng, ngăn ngừa sự lây nhiễm bệnh từ mẹ truyền sang con. Vì vậy tất cả phụ nữ mang thai cần xét nghiệm máu để phát hiện viêm gan B. Con của các sản phụ có kết quả xét nghiệm HBsAg dương tính phải được tiêm đồng thời 0,5ml huyết thanh có chứa kháng thể miễn dịch chống viêm gan và vắcxin trong vòng 12 giờ đầu sau khi sinh ở tại hai vị trí tiêm khác nhau. Cần tiêm chủng nhắc lại sau đó khoảng 1 tháng, 2 tháng và 1 năm.
    ĐỌc thêm: sàng lọc trước sinh khi nào tốt nhất ?
     

Chia sẻ trang này

Users Viewing Thread (Users: 0, Guests: 0)

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.