1. Ban quản trị diễn diễn ra mục tiêu vì một diễn đàn sạch để hướng tới một mội trường internet sạch, chúng tôi nghiêm cấm tất cả mọi hành vi SPAM trên diễn đàn: post bài không đúng chuyên mục, comment bừa bãi và đăng tải nội dung vi phạm pháp luật. Chúng tôi sẽ không thông báo mà xóa tất cả các bài viết liên quan đồng thời Ban nick vĩnh viễn.
    Dismiss Notice

Công nghệ ảo hóa - các kiểu ảo hóa căn bản

Thảo luận trong 'Cần bán' bắt đầu bởi tienmanh90, 13 Tháng tư 2020.

  1. tienmanh90

    tienmanh90 Active Member

    Ảo hóa hệ thống lưu trữ về cơ bản là sự mô hình, fake lập việc lưu trữ trong khoảng những đồ vật lưu trữ vật lý. Những đồ vật này sở hữu thể là băng từ, ổ cứng hay kết hợp cả hai loại. Việc khiến này với lại những ích lợi như việc tăng tốc khả năng truy hỏi xuất dữ liệu, do việc phân chia những tác vụ đọc, viết trong mạng lưu trữ. Tuy nhiên, việc mô hình các thiết bị lưu trữ vật lý cho phép tiết kiệm thời kì hơn thay vì phải định vị xem máy chủ nào hoạt động trên ổ cứng nào để truy nã xuất.

    Ảo hóa hệ thống lưu trữ với ba dạng mô phỏng sau đây:

    - Host-based: Trong mô hình này, ngăn phương pháp giữa lớp ảo hóa và ổ đĩa vật lý là driver điều khiển của các ổ đĩa. Phần mềm ảo hóa sẽ truy xuất tài nguyên (các ổ cứng vật lý) phê chuẩn sự điều khiển và truy hỏi xuất của lớp Driver này.

    - Storage-device based: Trong dạng này, phần mềm ảo hóa giao tiếp trực tiếp có ổ cứng. Ta sở hữu thể xem như đây là một dạng firmware đặc trưng, được cài trực tiếp vào ổ cứng. Dạng này cho phép truy tìm xuất nhanh nhất đến ổ cứng, nhưng cách thức thiết lập thường khó khăn và phức tạp hơn những mô phỏng khác. Nhà cung cấp ảo hóa được cung ứng cho những Server thông qua một thiết bị điều khiển gọi là Primary Storage Controller.

    - Network-based: Trong mô phỏng này, việc ảo hóa sẽ được thực thi trên 1 thiết bị mạng, ở đây có thể là một trang bị switch hay 1 máy chủ. Các switch hay máy chủ này kết nối sở hữu các trọng tâm lưu trữ (SAN). Từ các switch hay server này, những ứng dụng kết nối vào được giao du với trung tâm dữ liệu bằng các “ổ cứng” mô phỏng do switch hay máy chủ tạo ra dựa trên trọng điểm dữ liệu thật. Đây cũng là mô hình hay gặp nhất trên thực tiễn.

    >>> Xem thêm: bán máy chủ HP ML350 Gen10

    2. Ảo hóa hệ thống mạng

    Ảo hóa hệ thống mạng là 1 tiến trình thống nhất tài nguyên, đồ vật mạng cả phần cứng lẫn phần mềm thành một hệ thống mạng ảo. Sau ấy, các tài nguyên này sẽ được phân chia thành các channel và gắn có 1 máy chủ hoặc một đồ vật nào đó.

    có phổ thông cách để thực hiện việc ảo hóa hệ thống mạng. Các bí quyết này tùy thuộc vào những đồ vật hỗ trợ, nghĩa là những dịch vụ trang bị ấy, không những thế còn phụ thuộc vào hạ tầng mạng sẵn có, cũng như nhà cung cấp dịch vụ mạng (ISP).Sau đây chúng tôi sẽ giới thiệu một đôi mô phỏng ảo hóa hệ thống mạng:

    - Ảo hóa lớp mạng (Virtualized overlay network): Trong mô hình này, nhiều hệ thống mạng ảo sẽ cùng tồn tại trên một lớp nền tài nguyên dùng chung. Các tài nguyên đấy bao gồm những thiết bị mạng như router, switch, những dây truyền dẫn, NIC (network interface card). Việc thiết lập phổ thông hệ thống mạng ảo này sẽ cho phép sự thảo luận thông suốt giữa các hệ thống mạng khác nhau, dùng những giao thức và dụng cụ truyền chuyển vận khác nhau, thí dụ như mạng Internet, hệ thống PSTN, hệ thống Voip.

    - mô phỏng ảo hóa của Cisco: đó là phân mô phỏng ảo hóa ra khiến 3 khu vực, sở hữu các chức năng chuyên biệt. Mỗi khu vực sẽ với những kết liên sở hữu các khu vực khác để cung ứng các giải pháp tới tay các bạn một cách thông suốt:

    + Khu vực điều hành tầm nã cập (Access Control): với nhiệm vụ chứng thực khách hàng muốn đăng nhập để tiêu dùng tài nguyên hệ thống, qua đấy sẽ ngăn chặn các truy xuất không hợp thức của người dùng; không những thế khu vực này còn rà soát, công nhận và chứng thực việc tróc nã xuất của các bạn trong vào những vùng hoạt động (như là VLan, Access list).

    + Khu vực đường dẫn (Path Isolation): Nhiệm vụ của khu vực này là duy trì giao thông chuẩn y tầng Network, chuyên chở giao thông giữa những vùng khác nhau trong hệ thống. Trong các vùng này dùng giao thức khác nhau, như MPLs và VRF, vì vậy cần 1 cầu nối để liên lạc giữa chúng. Ngoài ra, khu vực này với nhiệm vụ kết liên (maping) giữa những trục đường truyền dẫn với những vùng hoạt động ở 2 khu vực cạnh nó là Access Control và services Edge.

    + Khu vực kết liên mang nhà sản xuất (Services Edge): Tại đây sẽ áp dụng những chính sách phân quyền, cũng như bảo mật ứng với từng vùng hoạt động cụ thể; cùng lúc qua đấy phân phối quyền truy hỏi cập tới dịch vụ cho quý khách. Các dịch vụ mang thể ở dạng san sớt hay phân tán, tùy thuộc vào môi trường tăng trưởng ứng dụng và đề nghị của người dung

    3. Ảo hóa ứng dụng

    Ảo hóa vận dụng là 1 dạng kỹ thuật ảo hóa khác cho phép chúng ta tách rời mối liên kết giữa vận dụng và hệ quản lý và cho phép cung cấp lại ứng dụng phù hợp mang nhu cầu user. Một áp dụng được ảo hóa sẽ không được cài đặt lên máy tính 1 cách bình thường, mặc dù ở giác độ người dùng, áp dụng vẫn hoạt động 1 cách bình thường. Việc điều hành việc cập nhật phần mềm trở nên tiện dụng hơn, giải quyết sự đụng độ giữa các ứng dụng và việc thí nghiệm sự tương hợp của chúng cũng trở nên thuận tiện hơn. Hiện tại đã mang khá nhiều tiết mục ảo hóa ứng dụng như Citrix XenApp, Microsoft Application Virtualization, VMware ThinApp ... Sở hữu hai cái công nghệ chủ yếu sau:

    - Application Streaming: vận dụng được chia thành rộng rãi đoạn mã và được truyền sang máy người dùng lúc cần đến đoạn mã ấy. Các đoạn mã này thường được đóng gói và truyền đi dưới giao thức HTTP, CIFS hoặc RTSP

    - Desktop Virtualization/Virtual Desktop Infrastructure (VDI): áp dụng sẽ được cài đặt và chạy trên 1 máy ảo. Một cơ sở quản lý sẽ tự đông tạo ra những desktop ảo và cung ứng các desktop ảo này tới các đối tượng sử dụng.

    4. Ảo hóa hệ thống máy chủ

    Ảo hóa hệ thống máy chủ cho phép ta có thể chạy phổ biến máy ảo trên 1 máy chủ vật lý, đem đến phổ biến ích lợi như nâng cao tính di động, thuận tiện thiết lập với những máy chủ ảo, giúp việc điều hành, chia sẻ tài nguyên phải chăng hơn, qu ản lý luồng làm việc phù hợp có nhu cầu, nâng cao hiệu suất làm cho việc của 1 máy chủ vật lý.

    Xét về kiến trúc hệ thống, các mô phỏng ảo hóa hệ thống máy chủ với thể ở 2 dạng sau:

    - Host-based: Kiến trúc này sử dụng một lớp hypervisor chạy trên nền móng hệ quản lý, tiêu dùng những dịch vụ được hệ quản lý cung cấp để phân chia tài nguyên đến những máy ảo. Ta xem hypervisor này là một lớp phần mềm riêng biệt, thành ra những hệ điều hành khách của máy ảo sẽ nằm trên lớp hypervisor rồi tới hệ quản lý của máy chủ và cuối cùng là hệ thống phần cứng… 1 số hệ thống hypervisor dạng Hosted có thể đề cập tới như VMware Server, VMware Workstation, Microsoft Virtual Server…

    - Hypervisor-based: hay còn gọi là bare-metal hypervisor. Trong kiến trúc này, lớp phần mềm hypervisor chạy trực tiếp trên nền móng phần cứng của máy chủ, không phê duyệt bất kì một hệ quản lý hay 1 nền móng nào khác. Qua đó, những hypervisor này sở hữu khả năng điều khiển, kiểm soát phần cứng của máy chủ. Cùng lúc, nó cũng với khả năng điều hành những hệ quản lý chạy trên nó. Kể phương pháp khác, những hệ quản lý sẽ nằm trên những hypervisor dạng bare-metal rồi tới hệ thống phần cứng. Một số thí dụ về những hệ thống Bare-metal hypervisor như là Oracle VM, VMware ESX Server, IBM's POWER Hypervisor, Microsoft's Hyper-V, Citrix XenServer…
     

Chia sẻ trang này

Users Viewing Thread (Users: 0, Guests: 0)

XenForo Add-ons by Brivium ™ © 2012-2013 Brivium LLC.